Bí quyết nghề thêu ren Văn Lâm truyền thống

Must Read

Timeout Ninhbinhhttp://timeoutninhbinh.com/
Timeout Ninhbinh là nơi chia sẻ và cập nhật thông tin, dành cho các bạn yêu mến, quan tâm tới mảnh đất Ninh Bình ngàn năm lịch sử.

 TimeoutNinhbinh  Thêu ren Văn lâm có quy trình chế tác hết sức bài bản, theo lối truyền thống, mang bản sắc riêng của làng nghề.

Quy trình chế tác sản phẩm thêu ren

Các bí quyết, kỹ thuật thêu của làng nghề được nghệ nhân Chu Văn Lượng là nghệ nhân tiêu biểu của làng nghề thêu ren Văn Lâm (được UBND tỉnh công nhận là nghệ nhân thủ công mỹ nghệ Ninh Bình và Hiệp hội làng nghề Việt Nam phong tặng nghệ nhân làng nghề Việt Nam) ghi tay lại về bí quyết, kỹ thuật thêu ren Văn Lâm trong cuốn “Hướng dẫn kỹ thuật thêu ren Văn Lâm” như sau:

Dụng cụ thêu

Khung thêu hình chữ nhật, khung thêu hình tròn, các dụng cụ thiết yếu khác: Nhành (bằng thép hay bằng tre), thép (bằng tre, gỗ,…), dao nhọn để dúi, trích sợi vải, kéo, kim các loại, giấy để vẽ mã sản phẩm, bút chì, mực lơ…Nguyên liệu thêu ren gồm: Vải vóc các loại, chỉ thêu các loại, màu nhuộm các loại.

Tạo mẫu và in mẫu sản phẩm thêu

Vẽ hình và hoa văn: Có vô số các họa tiết, hoa văn trên mỗi sản phẩm thêu nói chung nhưng nhìn chung có hai loại mà nghệ nhân tạo tác là: sáng tác và mô phỏng. Sáng tác là do nghệ nhân tự tạo ra. Mô phỏng (và dập khuôn) là do nghệ nhân, thợ thêu phỏng lại hoặc trổ để in lại theo mẫu có sẵn, trình tự như sau:

Để tạo nên mẫu hình họa trên sản phẩm thêu trước tiên là phải thể hiện hình họa trên giấy (phổ biến là giấy bóng can, thứ là giấy trắng…). Loại giấy bóng can hay giấy dó bền tiện tiện lợi hơn. Nghệ nhân dùng bút chì thể hiện hình họa trên giấy.

Trổ và in hoa văn: Đặt giấy đã vẽ hình thêu lên một tấm nilon (mỏng) rồi dung kim trổ xăm theo đường nét, chi tiết của các hình họa. Khoảng cách giữa các mũi trổ càng liền nhau càng tốt (khoảng 1-3 li).

Đặt tấm nilon lên tấm vải định thêu, căn ke cho thật vuông vắn, chính xác rồi dùng một thứ bột màu đã pha với nước (có thể thêm rượu) gọi là bột lơ vì nó có màu xanh lơ, dịu mắt, dễ nhìn, lại dễ giặt tẩy bằng nước chanh. Thoa một lớp mực lơ trên mặt tấm nilon, dùng chổi lông mềm (tựa chổi quét sơn, xi) quét thật đều lên những chỗ cần phải in ấn. Xong nhấc tấm nilon ra khỏi tấm vải (thường là vải trắng) thì các hoa văn, họa tiết đã được in trên bề mặt tấm vải rồi. Người thợ sau đó chỉ việc thêu thùa theo các đường nét trên tấm vải theo các hình họa, hoa văn đã được in sẵn. Khi thêu đã xong, tấm vải này (sản phẩm thêu) được mang giặt, là, vết mực lơ sạch hết. Còn tấm nilon được lau chùi sạch, cất giữ để có thể dùng vào những lần in thêu sau.

Căng vải trên khung thêu

Căng vải thêu trên khung chữ nhật: Đặt tấm vải đã in sẵn mẫu thêu ngay ngắn ở giữa khung. Xem lại khung, thép, nhành, lau chùi sạch sẽ kim chỉ, dây buộc. Khi tấm vải đã ngay ngắn, song mịn, cầm thép trên tay trái, giữ chặt. Tay phải cầm kim (vắt từ trái sang phải) khâu 3-4 mũi để ôm giữ vải vào thép khung rồi quấn chỉ 3 vòng vào thanh thép cho chặt, cố định  lại, khâu tiếp mấy mũi nữa. Nếu mẫu sản phẩm to rộng thì phải có hai người (mỗi người một phía khung).

Lấy thanh thép ấn chặt vào rãnh trên thanh cái khung thêu, buộc chặt lại. Phía rãnh khung thêu bên kia đặt thép vào rãnh, song lại hai mép rồi cuộn và vuốt tấm vải cho phẩng. Lấy đôi nhành xỏ vào hai đầu khung thêu, căng vải ra rồi dùng đinh (tre, thép) cắm vào lỗ nhành thêu để cố định bức vải thêu rồi dùng dây buộc vào khung, kết hợp chỉnh sửa độ căng đều của tấm vải định thêu.

Căng vải thêu trên khung tròn: Tương tự như căng vải thêu trên khung hình chữ nhật. Khác với khung thêu hình chữ nhật, khung thêu tròn có một thanh vòng tròn làm bằng thép để ép chặt miếng vải hình tròn quanh mép khung. Khi đã vuốt song vải trên mặt khung, đặt thanh vòng tròn chụp quanh mép khung, kết hợp kéo căng, cân đối tấm vải thêu trên mặt khung tròn rồi vặn ốc đinh ép để cố định vải trên mặt khung thêu. Đối với khung tròn thường chỉ để thêu các sản phẩm có kích thước nhỏ hoặc để sửa chữa từng phần của hàng thêu có kích thước lớn.

Tư thế ngồi thêu và động tác thêu

Tư thế ngồi thêu: Ngồi ngay ngắn (như ngồi viết). Xưa kia người thêu ngồi “bệt”, chân duỗi, nay ngồi ghế để thêu. Khoảng cách từ mắt tới chỗ vải thêu khoảng 25 cm- 30 cm. Khi thêu từ phải sang trái hoặc ngược lại thì nên dịch chuyển chỗ ngồi theo.

Động tác thêu:

Tay phải (có trường hợp là tay trái) cầm kim đặt trên tấm vải căng trên khung, cầm kim bằng hai ngón tay trỏ và cái. Ngón tay giữa có đeo “đê” lót ấn kim xuống. Khi rút kim lên rồi thì ngón tay giữ đưa quay cây kim ngược xuống, rồi di sợi chỉ thêu cho nuột. Riêng ngón thứ tư chống xuống mặt vải để lấy cữ cắm mũi kim, nó cũng làm trụ đỡ cho hai ngón cầm kim để có thể dịch chuyển tinh vi và quay được góc tới 30 độ. Ngón tay út thì “thoải mái” để luôn “hất chỉ” cho sợi chỉ thêu khỏi bị rối giắt cũng là để kiểm tra xem sợi chỉ có độ căng đảm bảo hay không.

Tay trái (tay đỡ, có trường hợp là tay phải, do thuận tay nào) đặt ở dưới tấm vải căng trên khung thêu. Ngón cái và ngón trỏ đón kim để rút và lại đâm kim lên khá liên tục. Ngọn kim đặt cách ngón trỏ khoảng 3-4 đốt. Đầu ngón trỏ và còn có nhiệm vụ tìm dò chỗ đâm kim. Ngón giữa cũng đeo “đê” để ấn cây kim lên, Khi rút kim thêu xuống khỏi mặt bức vải thêu thì ngón trái giữa gạt quay đầu kim quay ngược lên. Ngón thứ tư và ngón út căng sợi chỉ thêu cho vừa độ, giữ cho sợi chỉ thêu khi còn dài cho khỏi rối.

Những lối thêu truyền thống tiêu biểu và phổ biến

Thêu “Nối đuôi”: Thêu “nối đuôi” là thêu nối tiếp từng đoạn dài, mỗi mũi thêu chừng 5 milimet. Các mũi thêu phải chính xác, xít vào nhau để  hết sức tránh bị lỗi ra nền vải, thêu phải thẳng, phải lượn đúng và khéo để tránh bị lộ ra đường thêu “gãy khúc”, mũi thêu “cách quãng” hay đường thêu không thẳng là không hợp quy cách của lối thêu này.

Thêu “Vặn lướt”.

Thêu “vặn lướt” là thêu theo cách vặn đường chỉ thêu (thường là áp dụng đối với các hình ảnh như sống lá, dây nho, đường viền vòng nhỏ, diềm áng mây cách điệu, đường viền lá cứng (trúc)… Các mũi thêu vặn lướt dài ngắn tùy thuộc sao cho uyển chuyển, phù hợp. Khoảng cách mũi thêu có thể chỉ có 1 ly (mm) hoặc ngắn hơn. Các mũi thêu phải liền, sít vào nhau mà không tạo nên đường “răng cưa”. Lối thêu “vặn lướt” truyền  thống thường được áp dụng để thêu các hình cánh hoa, lá tre, trúc và những họa tiết tinh xảo bắt buộc khác.

Lối thêu “Bạt”.

Thêu “bạt” nghĩa là thêu theo các đường “chéo”, đường “bạt” để tạo thành các mảng. Các đường thêu có diện tích khá lớn. Hướng đi của các mũi thêu theo đường “bạt” cùng với hướng chiều dài của đường thêu lớn nhỏ (mà nó tạo nên) tạo thành góc 45 độ. Lối thêu bạt thường áp dụng để thêu các “đường viền cong” như các đường viền hình tròn, bầu dục, cánh hoa…Những cách thêu bạt phổ biến là:

Thêu bạt những đọan thẳng gấp khúc, thêu bạt những đường vòng, uốn lượn, thêu bạt những bông hoa (như hoa cúc, hoa hồng…)

Lối thêu “Chằng chặn”.

Đây là lối thêu khá đặc biệt, vừa chính xác lại có vẻ khoáng đạt, chân chất. Về tên gọi của lối thêu “chằng chặn” có thể hiểu nôm na là vừa chằng vừa chặn. “Chằng” là chằng nối giữa các mũi thêu với nhau trên đường thêu. “Chặn” là ghim móc sợi chỉ thêu vào tấm vải thêu sao cho hợp cách, vừa độ. Các mũi “chặn” trên hai đường thêu (được vẽ sẵn) thường so le, đều đặn, thưa dày tùy thuộc họa tiết. Như vậy, giữa hai mũi “chặn” chính là một đoạn “chằng”.

Những mũi thêu “chằng chặn” trên sản phẩm thêu tựa như những “vết gạch” thể hiện một cách tượng trưng, khoáng đạt những cảnh vật như song, biển, cánh đồng hoặc những vật nhỏ hơn khi cần. Ví dụ thêu chân của các con cò, con vạc, con công thì nghệ nhân ở Văn Lâm thường thể hiện qua lối thêu “chằng chặn”.

Lối thêu “Đột”.

Thêu “đột” là lối thêu mà các mũi thêu “đột biến”, không liền với nhau như thêu “chằng chặn”. Mỗi mũi thêu đột được thao tác riêng hẳn nhau, hoàn chỉnh, chặt chẽ, đúng quy tắc nghề nghiệp. Các mũi thêu đột cũng có độ dài ngắn khác nhau, tùy theo họa tiết cần thêu. Ví dụ như: Đột tạo nhụy hoa bằng mũi thêu ngắn. Đột để tạo cây lá phía xa thì thêu mũi dài.

Thêu đột phần nhụy hoa hình tròn: thêu đột theo từng vòng tròn hay bầu dục, bầu dục lệch… (từ phía trong ra phía ngoài), đột những vòng phía trong cùng (gần tâm) bằng những mũi thêu ngắn nhất, rồi càng ra các vòng ngoài thì các mũi đột càng dài. Thường khoảng cách giữa các mũi đột bằng nửa chiều dài của mỗi mũi đột. Mũi đột ở chỗ ít cong hơn thì dài hơn mũi đột ở chỗ cong nhiều (hẹp).

Lối thêu “Sa hạt” (thêu tạo hình những “hạt cát”).

Lối thêu sa hạt theo truyền thống làng Văn Lâm thường được áp dụng để thêu những họa tiết khá tinh xảo, đặc trưng như phần nhụy một số loại hoa, chi tiết ong, bướm,… Có hai cách thêu sa hạt: Thêu sa hạt đơn và thêu sa hạt kép.

Lối thêu “Đâm xô”

Thêu “đâm xô” như cách gọi là lối thêu được áp dụng để thêu những diện tích lớn, ít cần mịn, bóng, nuột hơn thêu bạt và thêu nối đuôi. Thêu “đâm xô” vốn chỉ là để thêu các sản phẩm màu (quen gọi là “hàng màu”). Thông thường, độ dài mũi thêu đâm xô koảng 5- 7 mm tùy thuộc họa tiết thêu.

Riêng lối thêu đâm xô cũng là cả một nghệ thuật gồm cả kỹ và mỹ thuật. Nhìn chung các mũi thêu đâm xô để mô tả sắc màu, hình khối (lồi lõm) của tạo vật trong thiên nhiên.

Những giá trị đặc sắc trong phương thức sản xuất truyền thống

Trước đây, người thợ Văn Lâm sản xuất ra các sản phẩm thêu ren theo một chu trình khép kín. Tất cả các công đoạn đều được tiến hành tại địa phương từ trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải, xe chỉ sợi, vẽ mẫu thêu, in, cắt vải thêu, chỉnh sửa, giặt tẩy, đóng gói… Các dụng cụ cũng được sản xuất ngay tại chỗ do một xưởng rèn phụ trách như: Khung thêu các cỡ, kim  thêu, dao trích, dao kẻ, kim trổ mẫu…Các công đoạn cũng đều được thao tác thủ công, chưa có sự hỗ trợ của trang thiết bị, máy móc hiện đại. Chưa có các loại vải thêu, chỉ, kim… ngoại nhập như bây giờ.

Hiện nay, với sự hỗ trợ đắc lực của khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại, nhiều công đoạn sản xuất của nghề thêu ren đã được lược bớt như việc xe chỉ, dệt vải. Các nguyên liệu ngoại nhập với chất lượng cao, mẫu mã phong phú đã góp phần nâng cao năng suất lao động, tăng chất lượng sản phẩm và đa dạng hoá sản phẩm thêu ren của Văn Lâm.

Công đoạn vẽ mẫu cần sử dụng giấy gió hoặc giấy bóng can, bút chì, kim trổ. Các mẫu thêu đơn giản có thể sử dụng loại kim trổ đã được cải tiến thành máy trổ mẫu nhưng đối với những mẫu thêu phức tạp thì phải cần đến bàn tay tỉ mỉ, công phu của người thợ thêu. Đây là công đoạn đầu tiên để làm ra sản phẩm, là yếu tố đảm bảo sự thành công cho một tác phẩm thêu ren nên người thợ phải hết sức cẩn thận, tỉ mỉ. Các công đoạn cắt vải, tẩy trắng, giặt là đều đã có máy móc và các loại hóa chất hỗ trợ.

Hiện nay, chỉ có hai khâu được thao tác hoàn toàn bằng tay và cũng là hai khâu quan trọng nhất, đó là khâu thêu ren và khâu chỉnh sửa. Các loại máy thêu công nghiệp đã xuất hiện từ khá lâu nhưng những sản phẩm của nó không bao giờ có thể sánh ngang với các sản phẩm được làm ra bởi bàn tay của những người thợ thủ công. Các sản phẩm của Văn Lâm được thêu tay hoàn toàn nên khâu chỉnh sửa bắt buộc cũng phải được tiến hành thủ công. Các mặt hàng thêu của Văn Lâm có một đặc trưng riêng, đó là có thêm kỹ thuật rua, ren. Đó là khi vải hàng đã được căng ngay ngắn, căng và thẳng trên khung thêu, người thợ sẽ tiến hành “rút hàng”. Tức là các mảnh vải nền được dùng để thêu sẽ được người thợ dùng kéo hay dao trích làm thủng hàng bằng cách rút bỏ một số sợi chỉ, tuỳ theo yêu cầu mà có thể rút sợi ngang hay sợi dọc rồi tiến hành thêu rua.

Khi tiến hành thêu, người thợ Văn Lâm sử dụng các kỹ thuật thêu truyền thống của dân tộc như: lướt vặn, đâm xô, bó bạt, thêu đột, sa hạt, thêu kim tuyến,… Người thợ giỏi là người có kỹ năng ngay từ động tác đưa tay lên xuống, cách se sợi chỉ sao cho săn bóng…

Khi đã thêu xong, tuỳ theo yêu cầu mà các sản phẩm có thể có thêm một lượt làm thủng hàng trên mặt mẫu thêu để làm sên thường, rua rùa hay rua mặt sàng… Đó cũng chính là mặt hàng thêu pha rua nổi tiếng chỉ có ở Văn Lâm.

Để có một sản phẩm thêu ren hoàn chỉnh phải trải qua nhiều công đoạn với rất nhiều thao tác kĩ thuật, một sản phẩm thêu ren chứa đựng  trong nó biết bao tâm huyết và công sức của người thợ cho nên mỗi một sản phẩm thêu ren của Văn Lâm không chỉ mang giá trị kinh tế mà nó còn là một tác phẩm nghệ thuật, một tác phẩm mang đậm dấu ấn văn hoá truyền thống của dân tộc thể hiện được tài năng, sự khéo léo, con mắt thẩm mỹ của người thợ Văn Lâm nói riêng và của nhân dân Việt Nam nói chung. Mỗi sản phẩm thêu ren của Văn Lâm tự nó đã làm nên sức hút, sự hấp dẫn đối với những người có ham muốn tìm hiểu về nền văn hoá truyền thống của dân tộc thông qua những sản phẩm tinh xảo này.

© Bài viết sử dụng hình ảnh từ một số tác giả và tài liệu Luận văn Thạc sĩ Bảo tồn và phát huy giá trị làng nghề thêu ren Văn Lâm.

- Advertisement -spot_img
- Advertisement -spot_img

Latest News

Bí quyết nghề thêu ren Văn Lâm truyền thống

 TimeoutNinhbinh  Thêu ren Văn lâm có quy trình chế tác hết sức bài bản, theo lối truyền thống, mang...

Cùng chuyên mục

- Advertisement -spot_img